IELTS là gì? Tổng quan những điều cần biết về kỳ thi IELTS

Rate this post

IELTS là gì? Tìm hiểu về loại chứng chỉ tiếng Anh có giá trị nhất trên thế giới. Cấu trúc bài thi IELTS, thang chấm điểm IELTS.

IELTS là gì?

IELTS là viết tắt của International English Language Testing System. Đây là một hệ thống bài kiểm tra về khả năng sử dụng thành thạo tiếng Anh qua cả bốn kỹ năng Nghe, Nói, Đọc, Viết.

Kỳ thi IELTS được sáng lập và điều hành bởi ba tổ chức ESOL của Đại học Cambridge (University of Cambridge ESOL), Hội đồng Anh (British Council) và tổ chức giáo dục IDP của Úc từ năm 1989.

Có hai hình thức thi IELTS mà mỗi người có thể lựa chọn là Academic (học thuật) hoặc General training module (đào tạo chung). Trong đó, IELTS Academic dành cho những người cần trình độ tiếng Anh ở bậc cao để theo học các hình thức đào tạo sau đại học. IELTS General cần trình độ tiếng Anh với mục đích học nghề, tìm kiếm việc làm hay là thủ tục để xin được nhập cư.

Giá trị của chứng chỉ IELTS

Kết quả của kì kiểm tra IELTS (TRF-Test Report Form) hay tấm bằng IELTS sẽ có giá trị trong vòng 2 năm.

IELTS hiện được công nhận ở 140 quốc gia trên toàn thế giới với 10.000 trường đại học, cao đẳng, cơ quan, các tổ chức sử dụng điểm số IELTS làm tiêu chuẩn đánh giá năng lực tiếng Anh chính thức.

Hiện trên thế giới có hơn 1.200 trung tâm tổ chức kỳ thi IELTS. Năm 2007, IELTS đã trở thành hệ thống kiểm tra ngôn ngữ tiếng Anh dành cho bậc sau đại học và người di cư phổ biến nhất toàn cầu với hơn 1 triệu người dự thi ở khắp nơi trên thế giới.

Số lượng thí sinh dự thi IELTS tăng nhanh mỗi năm. Thống kê mới nhất năm 2018 toàn cầu có hơn 4 triệu người tham gia thi IELTS. IELTS trở thành yêu cầu trình độ tiếng Anh bắt buộc ở rất nhiều quốc gia trên thế giới.

Đặc trưng của kỳ thi IELTS

IELTS kiểm tra tất cả khả năng nghe, đọc, viết và nói bằng tiếng Anh. Mỗi kỹ năng sẽ có từng bài thi riêng biệt.

Riêng đối với bài thi nói, IELTS sẽ đưa ra câu hỏi bởi nhiều kiểu giọng tiếng Anh từ Anh Anh, Anh Mỹ, Anh Úc… để tránh sự phân biệt ngôn ngữ hay bất lợi cho thí sinh.

Thang điểm của bài thi IELTS từ 1 (không biết sử dụng) đến 9 (sử dụng thông thạo). Bài thi được chấm điểm từng kỹ năng nhỏ nhất.

Đội ngũ giám khảo chấm thi IELTS được mời từ nhiều nơi trên thế giới: Mỹ, Anh, Úc, New Zealand, Canada và nhiều nước nói tiếng Anh khác.

Cấu trúc bài thi IELTS

Mỗi thí sinh tham dự kỳ thi IELTS đều phải trải qua 4 bài thi thành phần tương ứng với mỗi kỹ năng Nghe, Nói, Đọc và Viết. Trong đó, thí sinh sẽ làm bài thi Nghe, Đọc và Viết trong một buổi sáng ngày thi chính thức với tổng thời gian 2 tiếng 45 phút. Bài thi Nói được thực hiện riêng vào buổi khác, chỉ trong thời gian 15 phút.

Bài thi Viết và Đọc sẽ có sự khác biệt và độ khó khác nhau tùy thuộc vào thí sinh đăng ký hình thức thi Học thuật hay Đào tạo chung. Bài thi Nghe và Nói cũng khác nhau tùy thuộc vào giám khảo chấm thi.

Bài thi Nghe

Bài thi Nghe bao gồm 40 câu hỏi trong thời gian dự thi là 40 phút. Các câu hỏi được đưa ra theo trình tự và độ khó tăng dần.

Các câu hỏi được đưa ra theo nhiều hình thức khác nhau. Ví dụ như một người đặt ra câu hỏi hay cuộc hội thoại của nhiều nhân vật… Bài thi Nghe gồm có 4 phần, mỗi phần gồm 10 câu hỏi. Thí sinh sẽ nghe 40 câu hỏi lần lượt trong 30 phút và có 10 phút cuối cùng để trả lời đáp án vào tờ phiếu đáp án.

Phần 1: Câu hỏi được đưa ra từ các tình huống đời thường (ví dụ như đăng ký hoạt động, mua sắm, thuê nhà, nhập học…). Đó thường là câu chuyện hỏi và đáp của 2 người và người đáp thường nói nhiều hơn.

Phần 2: Câu hỏi được đưa ra trong các tình huống hướng dẫn hay giới thiệu về 1 chủ đề quen thuộc nào đó (ví dụ như trường học, khu du lịch, chương trình ca nhạc, triển lãm, trung tâm thương mại…). Thường chỉ có 1 người nói, dẫn dắt câu chuyện và đặt câu hỏi.

Phần 3: Đây là các tình huống đối thoại có tối thiểu là 2 người tham gia. Các nhân vật thường thảo luận các chủ đề khó hơn, có tính chất học thuật hơn (Ví dụ: thí nghiệm, chọn chủ đề khóa luận, đề tài nghiên cứu khoa học…).

Phần 4: Đây là 1 bài thuyết trình về 1 chủ đề học thuật do một người nói và kiêm đặt ra câu hỏi.

Các câu hỏi sẽ được hỏi bằng nhiều kiểu giọng tiếng Anh, kiểu phát âm khác nhau bởi các nhân vật khác nhau. Thí sinh chỉ được nghe câu hỏi duy nhất một lần rồi đọc câu hỏi và có thời gian chuẩn bị đáp án. Cuối bài thi thí sinh sẽ có 10 phút để ghi lại các đáp án vào Phiếu trả lời câu hỏi.

Bài thi Đọc

Bài thi Đọc dành cho hai hình thức Học thuật (Academic) và đào tạo chung (General Training) có sự khác nhau về nội dung và độ khó.

Bài thi đọc dành cho hình thức Học thuật (Academic) gồm 40 câu hỏi trong thời gian làm bài 60 phút.

Lưu ý bài thi đọc không có thời gian dành cho ghi lại câu trả lời cuối bài thi.

Bài thi thông thường bao gồm 3 phần và một phần trả lời câu hỏi. Mỗi phần gồm 1 đoạn văn khoảng 1500 từ, được chia thành các đoạn nhỏ. Các đoạn văn này thường được trích dẫn từ sách, báo, tạp chí hoặc tập san và những đề tài này thường là dạng bài luận mang tính chất chuyên môn cao.

Bài thi dành cho hình thức General Training cũng gồm 40 câu hỏi với thời gian làm bài 60 phút. Nội dung các đoạn văn trong bài thi đọc của hình thức General Training không mang tính chất chuyên môn. Đó thường là các đoạn mô tả được trích dẫn từ sách, báo, mẩu quảng cáo… nhằm đánh giá khả năng đọc hiểu, xử lý thông tin và suy luận của thí sinh.

Bài thi Viết

Tương tự bài thi đọc, bài thi Viết cũng có nội dung và độ khó khác nhau giữa hai hình thức thi học thuật và đào tạo chung.

Bài thi viết dành cho hình thức học thuật: Bài thi được chia làm 2 phần, tổng thời gian làm bài thi là 60 phút (thí sinh phải tự phân phối thời gian)

Phần 1: Đề bài đưa ra một biểu đồ, một hình vẽ hay bất cứ thứ gì… và yêu cầu thí sinh viết một đoạn phân tích ngắn khoảng 150 từ để mô tả và giải thích các số liệu, dữ liệu có trên biểu đồ, hình vẽ… đó

Phần 2: Đề bài sẽ đưa ra một quan điểm về một vấn đề xã hội và yêu cầu thí sinh bày tỏ ý kiến và nhận định cá nhân về quan điểm đó. Thí sinh sẽ viết một đoạn văn khoảng 250 từ để trình bày ý kiến cá nhân của mình một cách lý lẽ thuyết phục nhất. Thí sinh nên đưa ra nhiều ví dụ thực tế để minh họa cho ý kiến của mình.

Bài thi Viết dành cho hình thức đào tạo chung (General Training) cũng gồm 2 phần trong thời gian làm bài 60 phút tuy nhiên nội dung sẽ khác hơn.

Phần 1: Thông thường thí sinh được yêu cầu viết bức thư khoảng 150 từ với mục đích là hỏi thông tin hay giải thích về 1 tình huống cố định trong cuộc sống được đưa ra trong đề thi.

Phần 2: tương tự như đề thi Viết học thuật. Thí sinh cũng được yêu cầu viết một bài tiểu luận khoảng 250 trình bày quan điểm cá nhân về 1 sự việc hay vấn đề do đề thi đưa ra. Thí sinh cần phải đưa ra chính kiến của mình hoặc trích dẫn ý kiến đáng tin cậy của các nhà khoa học, những người nổi tiếng.

Bài thi Nói

Phần thi nói sẽ được tổ chức riêng vào một buổi khác có thể trước hoặc sau ngày thi ba bài thi trước. Thời gian của bài thi nói là ngắn nhất trong số 4 bài thi. Thí sinh dự thi Nói trong thời gian từ 11 phút đến 14 phút.

Thí sinh thể hiện phần thi khi nói chuyện trực tiếp, trả lời các câu hỏi được đưa ra từ vị giám khảo. Giám khảo sẽ đánh giá phần thi Nói của thí sinh qua 4 yếu tố đó là: vốn từ vựng, Ngữ pháp, Khả năng phát âm và sự tự nhiên, trôi chảy trong giao tiếp.

Có thể chia bài thi Nói ra làm 3 phần:

Phần 1: Có thể coi như một phần giới thiệu về bản thân. Thí sinh trả lời các câu hỏi về các chung như quê hương, công việc, gia đình, sở thích,…

Phần 2: Người hỏi đưa ra những gợi ý cho thí sinh về một sự vật, hiện tượng có liên quan đến bản thân và yêu cầu bạn dựa vào những gợi ý đó để phát triển thành một bài nói ngắn. Thí sinh chỉ có 1 phút để suy nghĩ và trình bày suy nghĩ của mình trong 2 phút. Kết thúc phần trình bày, giám khảo có thể hỏi thêm 1 hoặc 2 câu hỏi hoặc không.

Phần 3: Giám khảo tiếp tục hỏi câu hỏi sâu hơn, kỹ lưỡng hơn hay chuyên môn hơn về chủ đề mà bạn vừa trình bày. Các câu hỏi ở phần này thường dưới dạng: Compare (so sánh), Discuss (bàn luận), Speculate (dự đoán), Analyse (phân tích), Explain (giải thích), Evaluate (đánh giá)…

Các bài thi IELTS được thiết kế đa dạng về độ khó, về lĩnh vực và về các vấn đề chuyên môn.

Hệ thống tính điểm IELTS

Thang chấm điểm của IELTS là từ 1 – 9. Mỗi bài thi sẽ được tính điểm riêng biệt. Trung bình cộng của cả 4 bài thi sẽ điểm số cuối của thí sinh.

Tính tổng số điểm

Tổng điểm của 4 kỹ năng sẽ được làm tròn số theo quy tắc như sau: Nếu điểm trung bình cộng của 4 kỹ năng có số lẻ sau dấu chấm 25, thì sẽ được làm tròn lên thành .5. Nếu ố lẻ là .75 sẽ được làm tròn thành 1.0.

Ví dụ: một thí sinh có số điểm như sau: 5.5 (Nghe), 7.0 (Đọc), 6.5 (Viết) và 6.0 (Nói). Như vậy tổng điểm của thí sinh là 25 ÷ 4 = 6.25 được làm tròn thành 6.5.

Tương tự, một thí sinh có số điểm như sau: 4.0 (Nghe); 5.5 (Đọc), 4.5 (Viết) và 5.5 (Nói). Như vậy điểm trung bình cộng của thí sinh là 19.5 ÷ 4 = 4.875, được làm tròn thành 5.0.

Một trường hợp khác thí sinh có số điểm là 6.5 (Nghe), 5.5 (Đọc), 6.5 (Viết) và 6.0 (Nói). Như vậy điểm trung bình cộng của thí sinh này là 24.5 ÷ 4 = 6.125 không đủ điều kiện để làm tròn tăng lên nên chỉ được là tròn thành 6.0.

Chấm điểm bài thi Nghe và Đọc

Bài thi Nghe và Đọc đều bao gồm 40 câu. Mỗi câu trả lời đúng thí sinh sẽ được tính 1 điểm. Do vậy điểm số tối đa của một bài thi có thể đạt được là 40. Thang điểm từ 1 – 9 sẽ được tính dựa trên số câu trả lời đúng như sau:

Bài Nghe:

  • 16/40 câu đúng được 5 điểm
  • 23/40 câu đúng được 6 điểm
  • 30/40 câu đúng được 7 điểm
  • 35/40 câu đúng được 8 điểm

Bài Đọc của hình thức thi học thuật:

  • 15/40 câu đúng được 5 điểm
  • 23/40 câu đúng được 6 điểm
  • 30/40 câu đúng được 7 điểm
  • 35/40 câu đúng được 8 điểm

Bài Đọc của hình thức thi đào tạo phổ thông:

  • 15/40 câu đúng được 4 điểm
  • 23/40 câu đúng được 5 điểm
  • 30/40 câu đúng được 6 điểm
  • 34/40 câu đúng được 7 điểm

Do bài thi đào tạo phổ thông có độ khó và độ phức tạp thấp hơn đề thi theo hình thức học thuật. Cho nên điểm số cho các câu trả lời đúng trong đề thi đào tạo phổ thông cũng chấm chặt hơn

Chấm điểm phần thi Viết và Nói

Giám khảo sẽ chấm phần thi Viết và Nói dựa vào một barem điểm có sẵn của ban tổ chức. Các thang điểm từ 1 đến 9 được mô tả chi tiết trong barem điểm này. Số điểm cho mỗi phần là như nhau.

Bài thi Viết: Giám khảo sẽ cho điểm từng phần bao gồm các yêu cầu:

Khả năng hoàn thành yêu cầu của bài thi – Task Achievement (đối với đề tài 1) hay khả năng trả lời bài thi – Task Response (đối với đề tài 2)

  • Sự gắn kết – kết nối giữa các câu, các đoạn văn trong bài thi (Coherence and Cohesion)
  • Vốn từ vựng (Lexical Resource)
  • Ngữ pháp (Grammatical Range and Accuracy).
  • Bài thi Nói: Giám khảo sẽ cho điểm từng phần dựa vào các yêu cầu bao gồm:
  • Sự lưu loát và tính gắn kết của bài nói (Fluency and Coherence)
  • Vốn từ vựng và khả năng dùng từ (Lexical Resource)
  • Ngữ pháp (Grammatical Range and Accuracy)
  • Cách phát âm khi giao tiếp (Pronunciation)

Trước khi thi, mô tả thang điểm cho bài thi Nói và Viết sẽ được công khai để thí sinh tham khảo. Từ đó thí sinh có sự chuẩn bị chu đáo cho từng phần thi. Các vị giám khảo chấm thi IELTS ngoài yêu cầu về trình độ chuyên môn và tiếng Anh còn phải trải qua các khóa đào tạo về chấm thi IELTS mới được mời tham gia chấm thi.

Thang điểm đánh giá cuối cùng

IELTS không chấm thi theo hình thức đỗ và trượt. Thay vào đó, kết quả cuối cùng của bài thi IELTS sẽ được chấm theo thang điểm từ cấp 1 đến 9. Trên Giấy chứng nhận kết quả sẽ ghi rõ tổng điểm và điểm trung bình cho từng phần thi. Mỗi một mức điểm điểm tương ứng với từng trình độ khác nhau cụ thể như sau. Lưu ý, điểm thi IELTS chính xác đến 0.5.

9 – Thông thạo: Đây là mức đánh giá cao nhất của bài thi IELTS. Mức điểm này đánh giá thí sinh hoàn toàn thành thạo ngôn ngữ với sự chính xác, lưu loát và thông hiểu toàn diện, đầy đủ.

8 – Rất tốt: Mức này đánh giá thí sinh đã nắm vững ngôn ngữ. Tuy nhiên trong một vài trường hợp vẫn mắc những lỗi không chính xác, không phù hợp không phải lỗi hệ thống nên có thể tạm chấp nhận được. Lỗi có thể xảy ra trong những tình huống không quen thuộc và không hiểu và sử dụng ngôn ngữ tốt trong cả các chủ đề tranh luận chuyên môn phức tạp.

7 – Tốt: Nắm vững ngôn ngữ, sử dụng tốt ngôn ngữ ở trình độ chuyên sâu và phức tạp tuy nhiên vẫn có trường hợp mắc lỗi không chuẩn xác, không phù hợp.

6 – Khá. Đây là mức đánh giá thí sinh sử dụng ngôn ngữ hiệu quả. Có thể sử dụng tốt ngôn ngữ trong những tình huống đơn giản đến phức tạp tuy nhiên vẫn đôi khi mắc sai lầm ở các lỗi không hiểu, không chuẩn xác.

5 – Bình thường: Thí sinh ở mức điểm 5 chỉ sử dụng được một phần ngôn ngữ. Có thể sử dụng ngôn ngữ ở mức độ khái quát trong phần lớn trường hợp, đặc biệt là trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Tuy nhiên thí sinh thường xuyên mắc lỗi, các lỗi bước đầu mang tính hệ thống.

4 – Hạn chế: Người sử dụng ngôn ngữ có sự thành thạo cơ bản nhưng bị hạn chế trong nhiều tình huống, đặc biệt là gặp khó khăn khi sử dụng ngôn ngữ trong những tình huống phức tạp.

3 – Cực kì hạn chế: Thí sinh có thể hiểu, đọc và viết trong những tính huống quen thuộc nhưng thường thất bại trong giao tiếp.

2 – Lúc được lúc không: Gần như không thể giao tiếp trừ khi trao đổi về những thông tin cơ bản nhất và khi sử dụng từ ngữ riêng lẻ hay ngữ pháp ngắn trong một vài tình huống cố định. Khó khăn lớn trong việc nói và viết tiếng Anh.

1 – Không biết sử dụng: Chỉ có thể nhận biết tiếng Anh bằng số ít từ vựng riêng lẻ chứ hoàn toàn không có khả năng sử dụng tiếng Anh.

0 – Bỏ thi: Người dự thi không tham dự kỳ thi nên không có bất cứ nội dung nào để chấm bài

rvcentre.edu.vn

Please follow and like us:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *